Các vị tổ ngành nghề Việt Nam-Phùng Khắc Khoan-Tổ nghề dệt lượt và trồng ngô

Cập nhật: 22:59 12-07-2012

3263 lượt xem

                            PHÙNG KHẮC KHOAN

                      Tổ nghề dệt lượt và nghề trồng ngô 

 

 

Có những người tuy không đỗ trạng nguyên, nhưng khi đi xứ có tài ứng đối, làm thơ xuất sắc thông minh, lịch lãm hơn người khiến cho thiên hạ kính trọng và người đó còn để lại công đức cho dân thì được nhân dân phong là Trạng. Đó là trường hợp trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Ông sinh năm 1528 tại làng Phùng Xá (tục gọi làng Bùng), tổng Thạch Thất (Sơn Tây). Tương truyền, ông là em cùng mẹ khác cha  với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, được anh dạy học từ nhỏ nên mới 20 tuổi đã lừng lẫy văn tài không những về sở học mà cả khoa thuật số. Có tài liệu cho biết, dù học giỏi “chẳng ai không biết tiếng”, nhưng ông lại ham chơi, có lúc lại chểnh mảng việc học, vì thế thân phụ mới gửi cho bài thơ “thị huấn” (răn dạy) trong đó có những câu như:

Một nếp phải lo chuyện học Khổng,

                             Từng giờ cố sức chớ theo đào.

                             Hiển dương hai chữ cần ghi kỹ,

                             Viễn đại tiền đồ chớ biếng sao.

 

Nhận thư cha, Phùng Khắc Khoan có trả lời và hứa:

Tiền sâu nghĩa lý lòng nghiền ngẫm,

                             Tham cứu văn chương tự sức rèn.

 

Lúc bấy giờ họ Mạc đã cướp ngôi nhà Lê. Một đêm, Phùng Khắc Khoan đang ngủ thì Nguyễn Bỉnh Khiêm đến đập cửa, nói:

–        Gà đã gáy rồi, sao không dậy mà thổi cơm ăn, còn nằm mãi đấy ư?

Nghe nói vậy, ông hiểu ý, liền trở dạy lạy tạ Nguyễn Bỉnh Khiêm rồi khăn

gói trốn đi giúp vua Lê. Thời Lê Trung Tông (1549 – 1556) ông vào Thanh Hóa tham gia công cuộc phù Lê diệt Mạc. Lúc này, Trịnh Kiểm thay Nguyễn Kim giữ binh quyền và được vua Lê phong làm Thái sư. Biết ông là người có mưu lược nên Trịnh Kiểm giữ lại trong quân lữ để tham gia việc cơ mật. Năm 1557, ông đậu đầu khoa thi Hương, năm 1580 ông lại đậu Hoàng giáp trong khoa thi Hội. Mười hai năm sau, khi nhà Lê đuổi được họ Mạc và trở về kinh đô thì ông thuộc loại công thần. Công đã thành danh đã toại, bấy giờ ngoài 50 xuân ông mới lập gia đình.

Năm 1597, Phùng Khắc Khoan là chánh sứ sang triều Minh, xin cầu phong cho vua Lê Thế Tông. Sang đến nơi thì gặp Tiết Khánh Thọ, phái đoàn của ông không được bệ kiến ngay mà phải ăn chực nằm chờ ở ngoài dịch xá. Các quan đại thần nhà Minh có ý khinh thường sứ thần ta. Phùng Khắc Khoan liền làm 36 bài thơ chúc thọ, nhờ quan tể tướng họ Trương tiến dẫn. Đọc xong, vua Minh Thần Tông hết lời ca ngợi:

– Hà địa bất sinh tài? Nhân tài ở đâu cũng có, xem thơ Phùng Khắc Khoan thấy rõ là người học rộng, lại đầy lòng nhân nghĩa, thực đáng khen!

Sau đó, nhờ tài ngoại giao khôn khéo, đối đáp thông minh, uyên bác nên ông đã được vua Minh khâm phục và nhượng bộ nhiều điều. Chẳng hạn, trước đây trong các cống phẩm, nhà Minh yêu sách phải có hình nhân bằng vàng (ba năm một lần) thay cho quốc vương sang triều yết kiến và một hình nhân nữa thế mạng Liễu Thăng bị ta giết ở núi Yên Mã. Hình người bằng vàng trước kia làm ngửa mặt, tới khi nhà Mạc cướp ngôi lại đúc ngôi lại đúc người vàng mặt cuối xuống, tỏ ý thần phục. Đến nhà Lê không theo mẫu ấy nên vua nhà Minh không chấp nhận. Thế nhưng, Phùng Khắc Khoan biện bạch rằng, họ Mạc cướp ngôi là có tội, bắt cúi mặt là hợp lý, còn vua Lê lên ngôi là quang minh chính đại, do đó đúc ngửa mặt là đúng định lệ xưa nay. Lời nói mềm dẻo nhưng cương quyết, hợp lý của ông khiến vua Minh phải đồng ý. Trong thời gian ở Trung Quốc, ngoài việc ngoại giao, hoạt động văn học, ông còn để ý đến cả lĩnh vực kinh tế. Đánh giá về chuyến đi sứ của Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn có viết trong kiến văn tiểu lục: “Phùng Khắc Khoan phụng mệnh đi sứ, tuổi đã ngoài bảy mươi, không những biện bạch quang minh chính đại, đạo đạt được mệnh vua, mà còn làm mạnh mẽ được thể thống trong nước. Đến như ba mươi vần thơ dâng mừng khánh tiết và hơn mười vần thơ đáp lại chánh phó sứ nước Triều Tiên, tài tứ chứ chan, cách điệu tươi đẹp y như lúc còn trẻ tuổi. Như thế chẳng phải là được linh khí núi sông giúp đỡ đấy ư?”

Truyền thuyết kể rằng, nước Tàu có giống ngọc mễ (ngô) mà nước ta lúc bấy giờ chưa có. Trong thời gian đi sứ khi được dọn cho ăn món này, Phùng Khắc Khoan thấy có vị ngọt bùi và nhủ thầm:

– Đúng là gạo ngọc!

Từ đó ông để tâm tìm mọi cách để lấy bằng được loại giống này. Có những lần ông giả cách đi ngắm cảnh lân la chỗ người Tàu đang bẻ ngọc mễ để hỏi mua. Nhưng không ai dám bán vì vua Minh đã ra lệnh cấm bán hạt giống cho người nước ngoài. Vậy phải làm cách nào? Chỉ còn một thời gian ngắn nữa là lên đường về nước. Ông bèn nghĩ ra mưu kế: giả vờ lâm bệnh, không ăn được cơm mà phải ăn cháo ngọc mễ mới hợp với phủ tạng. Ông dâng sớ xin được mang ngọc mễ theo để ăn dọc đường. Vua Minh vốn nể trọng ông mà không hề ngờ rằng ông lại quan tâm đến lĩnh vực kinh tế nên giáng chiếu chấp thuận nhưng cũng chỉ vừa đủ ăn. Suốt dặm đường trở về nước, ông ăn một bữa, nhịn hai bữa để hạt giống mang về được nhiều. Có giai thoại kể rằng, khi đến Nam Quan, quan coi ải được lệnh lục soát, khám xét rất ngặt, không để sứ thần nước ta mang được một hạt ngọc mễ nào qua ải. Phùng Khắc Khoan nghĩ ra kế giấu ba hạt ngô vào chỗ kín nên mới đem đi thoát được. Do đó, sau này khi cúng cơm, không ai dùng ngọc mễ để làm cỗ cúng vì lý do như thế.

Về nước, với ba hạt giống, Phùng Khắc Khoan tự tay gieo trồng và đem nhân giống. Giống ngọc mễ này là do dân ở đất Ngô xưa kia trồng, nên ông đã đặt tên là ngô để cho dân dễ gọi. Rồi sau này, mãi đến năm 1723, có ông quan Trần Thế Vinh, người huyện Tiên Phong (Sơn Tây) đi sứ nhà Thanh cũng lấy được giống ngọc mễ đem về trồng. Ngoài việc đem giống ngô về nước, Phùng Khắc Khoan còn dạy dân cách trồng các loại cây khác. Chẳng hạn, việc trồng dưa ông dạy rằng:

Trồng dưa chớ để mùa qua

                              Ngăn phên mắt cáo kẻo gà đạp kê

                                    Quanh vườn thả đậu sừng dê

                            Mướp trâu dưa chuột bốn bề leo dong

Hoặc trồng dừa thì phải: “Dừa già đắp gốc sống lâu” hoặc hướng dẫn tìm những loại cây khó tìm:

Đỏ tươi chon chót bông dum

                       Lành đem ngăn ngắt màu um lá chàm

 

Ngoài ra, Phùng Khắc Khoan còn nhọc công sưu tầm được nhiều giống rau, hoa quả với lòng mơ ước:

                              Ngày nhiều vật lạ của tươi

                        Che chở nghìn đời, dân ấm dân no

 

Như thế đủ thấy được công đức của ông đối với dân. Đặc biệt trong thời gian đi sứ ngoài việc bí mật đem về giống ngô, ông còn học được cả nghề dệt the, lượt. Nghề này được Phùng Khắc Khoan truyền cho dân làng Bùng, dệt ra thứ lượt bằng tơ đẹp nổi tiếng được gọi là “lượt Bùng”. Có thể nói, trong suốt thời gian ở nước ngoài, không lúc nào Phùng Khắc Khoan không lưu tâm đến việc học hỏi tiến bộ khoa học kỹ thuật của họ. Đã nhiều lần ông đến xưởng dệt tơ, tìm cách lưu lại để quan sát rồi kín đáo ghi chép công thức, phương pháp dệt lượt.

Với nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc, trở về nước, Phùng Khắc Khoan được thăng chức Tả Thị Lang Bộ Lại, tước Mai Lĩnh Hầu. Trong đời Lê Kính Tông (1600 – 1619) ông lại được thăng Thượng thư bộ Công, bộ Hộ, tước Mai quận công. Dù đang ở chức cao, được trọng vọng, nhưng ông lại xin hưu trí. Trở về quê nhà, ông dạy dân về nông nghiệp, hướng dẫn làm công tác thủy lợi. Chính ông là người cho đào mương tiêu nước lưu cữu quanh núi Thầy, rồi đào mương dẫn nước từ núi Thầy về tưới cho cả vùng Bùng Xá, Đặng Xá, Hoàng Xá. Nhờ vậy, dân làm ruộng quanh năm không bị úng, không bị hạn. Năm 1613, ông lâm bệnh nặng con cháu đến bên giường. Ông mỉm cười và bảo đọc thơ. Một người cháu đã đọc bài “Bệnh trung thư hoài” mà ông đã viết năm 1548 :

                     Bình sinh chính trực lại trung thành,

                     Nhật nguyệt nêu cao chí khí mình.

                     Hạt bút, bốn bề mưa gió động,

                     Thành thơ, khắp chốn quỷ thần kinh.

 

Ông thỏa lòng nhắm mắt. Đó là ngày 24-9 năm Quý Sửu (1613) và được nhân dân tôn làm Phúc thần. Riêng về lĩnh vực văn học, Phùng Khắc Khoan còn là một tên tuổi lớn có để lại nhiều tác phẩm giá trị như: Huấn đồng thi tập, ngôn chí thi tập, Mai lĩnh sứ Hoa thi tập…

Có một điều thiết tưởng cần nhắc lại, sau khi ông mất, con cháu nghèo quá, nghèo đến mức phải đem bán cả bức tranh truyền thần vẽ chân dung ông! Lúc đem đi bán, có người xin mở ra xem. Xem tranh, người đó kinh ngạc thốt lên: “Hẳn là bức vẽ cụ cố của các ông ngày trước. Nếu muốn bán được giá thì nên tìm đến vị quan đang hiển đạt trong triều mà bán”. Nghe theo lời, con cháu Phùng Khắc Khoan đến dinh thự của thượng thư Nguyễn Quý Đức và bán được bộn tiền. Có một điều lạ là trước lúc xảy ra chuyện này, quan thượng thư đã nằm mộng thấy Phùng Khắc Khoan đến báo trước! Khi nhìn thấy tranh, Nguyễn Quý Đức khen ngợi mãi không thôi và cảm kích xin triều đình cấp thêm ruộng tự cho cháu Phùng Khắc Khoan để phụ vào việc thờ cúng hàng năm. Điều này cho thấy, dù sinh thời làm quan ngất ngưỡng danh vọng, nhưng ông Tổ nghề dệt lượt đã sống rất trong sạch.

Trích dẫn từ: Nhà Xuất Bản Trẻ

 

Các sự kiện CLB